Sự tích hoa Bằng Lăng

Ngày xửa ngày xưa, trên thiên đình, Ngọc Hoàng có mười hai cô công chúa xinh đẹp, mỗi người một vẻ, rất được Ngọc Hoàng thương mến, luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho các con của mình. Một ngày kia, Ngọc Hoàng cho gọi mười hai cô công chúa của mình lại và ban cho một đặc ân là sẽ cho các con mình làm nữ hoàng các loài hoa dưới trần. Cả mười một cô đều chọn cho mình một loài hoa, cô thì chọn hoa hồng, cô thì hoa lan, cô kia lại hoa lyly…duy chỉ có cô út là phân vân mãi không chọn được loài hoa nào. Đến khi Ngọc Hoàng lên tiếng hỏi, cô mới thưa rằng:

“Thưa phụ hoàng, từ nhỏ đến giờ con rất thích màu tím thơ ngây nên mong phụ hoàng hãy cho con làm nữ hoàng của loài hoa mang màu tím ấy!”

Ngọc Hoàng suy nghĩ tới, suy nghĩ lui mới quyết định cho nàng công chúa bé bỏng của mình làm nữ hoàng loài hoa Bằng Lăng.

Cùng thời điểm đó, ở dương gian có chàng thư sinh nghèo, thấy vẻ đẹp giản dị, dịu dàng của hoa Bằng Lăng nên chàng liền mang về nhà trồng để ngày nào cũng được ngắm. Mỗi năm vào mùa hoa nở, chàng thư sinh ấy ngày càng đắm say màu tím quyến rũ ấy, dần dần chàng đem lòng yêu thương loài hoa ấy. Cũng lúc ấy nàng công chúa út cũng say mê tài văn thơ của chàng thư sinh. Nàng xin phụ hoàng cho mình được xuống trần gian kết tóc se duyên với chàng thư sinh. Nhưng Ngọc Hoàng phản đối quyết liệt vì tiên và người không thể đến với nhau được. Nàng công chúa út từ đó u buồn, suy tư, nhớ nhung. Bao nhiêu người trên thiên đình đến hỏi xin cưới nhưng nàng đều từ chối.

Và cũng tử đó, loài hoa Bằng Lăng ngày càng phai nhạt màu tím. Còn chàng thư sinh vẫn một lòng si tình loài hoa Bằng Lăng màu tím ấy.

Vậy nên kể từ đó, nhân gian gọi hoa Bằng Lăng là loài hoa chung thuỷ, màu tím thơ ngây tượng trưng cho mối tình đầu ngây ngô của tuổi học trò.

Sự tích hoa đồng tiền

Ngày xửa ngày xưa, khi nền kinh tế của nhân loại đang ở trong cảnh màn trời chiếu đất tất cả đều theo kiểu Cộng sản nguyên thuỷ, cuộc sống trôi đi thật đẹp và ý nghĩa. Không có cái gì là riêng cả: từ các loại súc vật, xương xẩu, đá sắc cạnh hay đá đỏ đều có giá trị như nhau.

Trong các gia đình khi ông chồng đi săn hươu nai, ma mút … họ vẫn có thể yên tâm vì đã có ông hàng xóm nào đó đến chăm sóc cho vợ, con của mình. Cuộc sống cứ như thế trôi đi, không có mâu thuẫn, xung đột toàn nhân loại chỉ có sự thương yêu… thi thoảng chỉ xảy ra vài vụ các chú quá đói rút xương của chiến hữu ra gặm nhưng tất cả cũng chỉ là bình thường.

Một ngày nọ đẹp trời có một “quái thú” xuất hiện với làn da trắng nó sở hữu một thân hình dễ sợ với số đo chuẩn là 4.5 – 3 – 4.5 (gang tay) cả cộng đồng có một nửa là háo hức náo nức chen lẫn một nửa phẫn nộ trước sự có măt của con ” quái thú” trong cái cộng đồng tốt đẹp này. Nhưng do chưa có chuyện gì xẩy ra nên cuối cùng mọi việc vẫn là bình thường.

Mấy mụ đàn bà của cộng đồng nguyên thuỷ luôn luôn nuôi ý định làm thịt cái con quái thú ấy, phải gặm bằng được xương ống, xương bánh chè và đặc biệt là cái xương chân “dài tới nách”, nhưng âm mưu của các mụ luôn bị bọn đàn ông lật tẩy và can thiệp. Họ bảo thịt con kia không ngon bằng thịt hoẵng, chân nó không dài và nhiều thịt như vòi mamút, xương nó cũng không mềm bằng xương nai và phải coi nó là bạn – ngậm đắng nuốt cay .

Con “quái thú” vẫn sống cũng bầy người và sinh hoạt cùng họ nhưng nó có một sở thích kỳ quặc là ăn máu tươi có rắc lạc bỏ rau(tổ tiên của món Tiết canh) và uống một thứ nước kỳ dị do một loại hoa quả lạ để lâu ngày ( rượu đấy ) điều này làm cho các chú nguyên thuỷ suốt ngày đi săn vịt trời, hái nho, dừa, chuối về để phỉnh con “quái thú” đó . Nhưng thật buồn khi chưa phỉnh được nó thì đã ngoắc cần câu bởi cái loại nước chết tiệt có hương vị lạ đó, thi thoảng có vài chú trụ được nhưng cuối cùng cũng chả làm ăn được gì.

Sự tồn tại của con “quái thú” làm cho xã hội ngày đó không ai chịu đi săn nữa mà chỉ lo ở nhà thi nhau uống cái loại nước chết tiệt. Với mục đích là … con ” quái thú” cho nó chừa, xã hội loạn lạc ko ai chịu làm ăn và có những cái không thể chung được nữa. Các cuộc chiến nổ ra liên miên giữa các cá nhân nhưng chả ai thắng ai.

Trước tình trạng đó, các bà vợ bèn lợi dụng cơ hội để thực hiện cái âm mưu được che dấu bấy lâu nay là “thịt” con “quái thú” .

Cả làng tự dưng được một bữa tiệc lình đình với những món ăn được coi là đặc sản và xương của nó được chôn thật kín để không lộ ra những ” dài tới nách”. Thật lạ là sau khi ăn xong bữa tiệc chung đó cánh đàn ông tự dưng uống không thấy say và tất cả đều chạy về phía hang ”quái thú”, nhưng hỡi ôi không thấy nàng đâu, cả cánh rừng như đảo điên, cả cộng đồng như đảo điên. Sự căm giận vì uất ức, strees đã làm cho họ không thương yêu nhau nữa. Vợ hàng xóm không là người thân của mình, và họ sẵn sàng rút xương một thằng nào dám mò vào nhầm nhà trong đêm… ôi đau thương.
Mấy ai biết rằng khi trên mộ con “quái thú” nở ra những bông hoa như hình trên thì xã hội bắt đầu bước vào giai đoạn “chiếm hữu” tất cả đều không thể là của chung. Con người hay nghĩ đến các loại vật liệu để đem đổi lấy thức ăn thú vật, họ cần các thứ vật liệu ấy và gọi nó là tiên nhưng dần dần họ thấy nó còn hơn tiên nên đành phải thêm dấu huyền thành tiền. Tiền ngày xưa có hình tròn và có lỗ cho nên khi nhìn thấy loài hoa trên người ta đã gọi loài hoa ấy là hoa đồng tiền.

Sự tích hoa Cẩm Tú Cầu

Từ thuở sơ khai, khi con người dựa vào hoạt động săn bắn và hái lượm để tồn tại thì việc chiếm hữu lãnh thổ là điều thiết yếu để đánh giá quyền lực của mỗi nhóm người riêng lẻ.

Thời kì hỗn loạn nhất trong lịch sử bắt đầu từ đó, đánh dấu sự ra đời của mười ba bộ tộc với những cuộc chiến tranh triền miên hàng trăm năm đến nỗi không ai còn nhớ nguyên nhân chiến tranh là gì nữa.

Những cuộc chiến đẫm máu cứ thế kéo dài. Trước tình hình đó mười ba vị tộc trưởng đã tổ chức một cuộc họp nhằm đưa ra phương pháp giản hòa. Thế nhưng, buổi họp thất bạị vì sự bất đồng, một cuộc chiến lớn nhất chưa từng có giữa mười ba bộ tộc đã nổ ra. Như một lời nguyền, trong cuộc chiến đó không một người đàn ông nào sống sót. Những người mẹ, người vợ, những đứa con nhỏ sống trong cảnh lầm than.

May mắn thay, trong cảnh đó đã xuất hiện một vị nữ thần đầy quyền lực, đứng ra hoà giải mười ba bộ tộc, tập hợp học thành một bộ tộc duy nhất và dạy họ điều hay lẽ phải. Từ đó chiến tranh chấm dứt, hòa bình được duy trì, cuộc sống tốt đẹp, mùa màng thuận lợi, lễ hội diễn ra hàng năm trong tiếng cười và những điệu múa. Đến mùa thứ sáu, vị nữ thần đứng trước bộ tộc và thông báo

– Hỡi những đứa con của đất Mẹ! Nhiệm vụ của ta đã hoàn thành, đã đến lúc ta phải ra đi.
Trong ánh lửa đêm, tiếng xì xầm lo lắng vang lên. Nữ thần giơ cao cây trượng của mình ra hiệu mọi người im lặng.

– Trước khi đi, ta sẽ trao lại quyền năng của mình cho một trong số các ngươi. Người này sẽ là nhà tiên tri thay ta dẫn dắt bộ tộc. Tất cả các cô gái tròn mười sáu tuổi trinh nguyên hãy bước đến phía trước.

Bảy cô gái bước lên trên đống lửa lớn. Nữ thần nhắm mắt lại rồi giơ cao cây trượng, bà lâm râm đọc câu thần chú. Ánh sáng trắng chói lòa thay thế màn đêm đen, vị nữ thần biến mất, cây trượng của bà lơ lửng trên không trung phát ra những ánh hào quang rực rỡ, nó chậm rãi bay đến cô gái thứ tư và nằm trong lòng bàn tay cô. Cơ thể cô gái bắt đầu thay đổi, cô trở nên xinh đẹp như một nàng tiên, một bộ đồ trắng mỏng manh thay thế cho y phục của bộ lạc tượng trưng cho sự thuần khiết. Tất cả mọi người trong bộ tộc quỳ trước nhà tiên tri mới của mình, họ hô hào và kính nể cô. Sau lễ hội, nhà tiên tri mới được đưa đến đền thờ dành cho mình. Giờ đây, cô được mọi người tôn sùng như một vị thánh nhưng cái giá phải trả là cô sẽ phải ở đền thờ suốt sáu năm tại vị cũng như không bao giờ được lập gia đình sau đó.

Tục lệ cứ mỗi sáu mùa mưa nắng sẽ chọn một nhà tiên tri bắt đầu từ đây. Họ sống trong nghi thức lễ giáo để rồi bị ám ảnh bởi nỗi cô đơn, một số khác lại xem đó là niềm kiêu hãnh và vinh dự lớn lao trong cuộc đời.

Thời gian trôi qua trong yên bình, cho đến nhà tiên tri lần thứ 127. Các bộ tộc lớn nhỏ khắp nơi đổ về dự lễ như thường lệ. Năm đó, có 36 cô gái tuổi mười sáu được chọn cho buổi tiếp nhận.

Trong đó có Li-a, cô gái có nét đẹp trong sáng của nắng, đôi mắt long lanh như những giọt mưa đầu mùa. Bao chàng trai mơ ước được làm chồng cô, nhưng cô không để mắt đến một ai ngoại trừ Erike, người hàng xóm lớn lên cùng cô. Lễ kết duyên hai người đã được định sẵn, nhưng buổi tuyển chọn nhà tiên tri đã phá vỡ tất cả. Cha mẹ Li-a hủy lễ và khuyên con gái mình tham gia vào buổi chọn nhà tiên tri, vì đó là niềm tự hào của gia đình, vả lại chưa chắc cô sẽ được chọn, nếu không được, đám cưới sẽ diễn ra sau khi kết thúc lễ hội. Dù vậy, đêm đó Li-a vẫn khóc đến cạn nước mắt.
Nhà tiên tri đương nhiệm xuất hiện sau các nghi lễ trịnh trọng. Bà gọi các cô gái lên trên đài xếp thành vòng tròn xung quanh mình rồi làm phép. Li-a thầm cầu nguyện người được chọn không phải là cô, đó không phải con đường cô muốn, cô chỉ cần được bên cạnh người cô yêu mà thôi.
-Erike! – Li-a thầm thì.

Bên dưới đám đông, Erike còn lo lắng hơn cả cô. Cả ngày anh cầu xin tất cả các vị thần mà anh biết rằng anh sẽ đánh đổi tất cả chỉ để Li-a không thành nhà tiên tri. Li-a đã là linh hồn của anh.

Nhưng định mệnh vẫn là định mệnh. Li-a đã được chọn là nhà tiên tri mới, mọi người đưa cô đến đền thờ, cô ở lại đó và không được phép gặp bất kì ai ngoại trừ tộc trưởng khi có việc cần đến nhà tiên tri.

Erike đau đớn bỏ đi khỏi bộ tộc và không còn ai nhìn thấy anh nữa. Mang trong mình trọng trách là một là tiên tri nhưng Li-a chưa bao giờ nguôi mong mỏi gặp lại người yêu, mỗi ngày cô đều cầu nguyện cho Erike được bình an sống trong hạnh phúc.

Không chấp nhận được sự thật, sau ba năm sống trong đau khổ trong rừng sâu Erike đã trở về làng. Để gặp người con gái thân yêu, anh âm thầm đột nhập vào đền thờ. Tưởng chừng như Li-a đã quên, nhưng cô nhận ra ngay người con trai hằng đêm cô nhớ nhung. Im lặng nhìn nhau trong xót xa và nước mắt.

Erike nói rằng cả hai nên bỏ trốn đến nơi mà không ai tìm ra họ. Li-a sợ hãi, vì nghĩ đến trách nhiệm và sự quan trọng của nhà tiên trig. Nhưng phần nào trong cô lại muốn được ở bên Erike. Từ ngày cô được chọn để trở thành nhà tiên tri thì cuộc sống không còn là của riêng cô nữa rồi.

Lính gác đền thờ phát hiện người lạ trong đền thờ,liền chạy đến bắt Erike. Erike liền nắm tay kéo Li-a chạy vào rừng sâu. Họ chạy, chạy mãi suốt nhiều ngày vượt qua sông núi. Dù là nhà tiên tri với những pháp thuật khôn lường nhưng Li-a vẫn chỉ là một cô gái chân yếu tay mềm, sau nhiều ngày rượt đuổi cô như kiệt sức rồi quỵ xuống trên một cánh đồng cỏ trải dài ngút ngàn. Phía sau là tiếng hò hét của bộ tộc kéo đến, cô biết rằng nếu bị bắt chắc chắn Erike sẽ bị xử tử vì đây một trọng tội.

–  Erike! Em không thể đi tiếp được nữa rồi. Anh chạy đi! Họ sẽ giết anh mất.
–  Không! Anh sẽ không bỏ em lại đâu, anh đã mất em một lần rồi. Erike đỡ cô dậy. Anh sẽ cõng em!
–  Đừng khờ thế! Anh phải sống…

VỤT! VỤT! VỤT! Tiếng cung tên lướt đi trong gió, hàng loạt mũi tên lao qua cánh đồng tìm hồng tâm. Một trong số chúng bay thẳng đến con tim của Erike.

Hự! – Máu tuôn ra nhưng không phải của Erike. Li-a đã thay anh nhận mũi tên kia, Erike đỡ lấy cô trong đau đớn. Thời gian với họ như ngưng lại, không còn gì là quan trọng nữa, điều quan trọng nhất đang trên tay Erike nhưng anh lại sắp lìa xa điều đó mãi mãi.
– Anh chạy đi. Em là nhà tiên tri, họ sẽ không giết em đâu! Li-a nói trong khó nhọc.
– Không! Không! Không! Erike hét lên trong nước mắt. Anh sẽ không đi đâu cả. Nếu chết, anh sẽ chết bên em.

Bỗng nhiên Li-a nghĩ đến định mệnh này, tại sao cô lại được chọn làm nhà tiên tri? Và cô nhớ đến câu thần chú cổ xưa, cô không muốn nhìn thấy người mình yêu chết. Cô biết rằng với tình yêu anh dành cho cô anh sẽ không bỏ cô lại nơi đây. Hy sinh là thứ duy nhất cô có thể làm cho anh bây giờ
– Erike! Em yêu anh, dù có ở nơi nào trong cõi đời này, em vẫn yêu anh! Cô khẽ nói vào tai ngưòi cô yêu rồi đẩy anh ra xa.

Mũi tên đâm quá sâu vào ngực cô, nó cướp đi nguồn sức lực cuối cùng. Li-a cố gượng dậy, cô chống cây trượng xuống đất rồi giơ cao hai tay lên trời. Toàn bộ cánh đồng bỗng nhiên hóa thành một rừng cây cao gần hai mét ngăn những kẻ đuổi theo. Từ các bụi cây bỗng dưng hàng triệu bông hoa đua nở, chúng có hình cầu được tạo thành bởi các nhánh hoa nhỏ khác. Màu trắng của hoa ngập tràn trên cánh đồng. Một cảnh tượng đẹp kì lạ nhưng hình bóng Li-a dần phai nhạt rồi biến mất trước mắt Erike.
– Li-a!!!!!!!!! Anh với tay và kêu gào tên người con gái mình yêu.

Xung quanh anh giờ đây chỉ có loài hoa lạ kia cũng chính là người con gái đã chết vì anh. Tự dằn vặt và trách bản thân, Erike không rời đi nửa bước, anh ở lại nơi đây bảo vệ cô, loài hoa màu trắng tinh khiết như tình yêu cô dành cho anh. Ngày tháng trôi qua, Erike chết vì đói và khát. Anh gục xuống bên những đóa hoa.

Máu và thịt Erike hòa vào đất nơi những bông hoa mọc lên, tạo nên những màu sắc khác cho những bông hoa màu trắng tượng trưng cho tình yêu của họ: Vẫn giữ màu trắng trinh nguyên, màu đỏ mãnh liệt, màu xanh hy vọng, màu tím thuỷ chung,…

Từ đó, người ta đặt tên cho loài hoa này là Cẩm Tú Cầu. Truyền thuyết này được lưu truyền qua những người yêu nhau cho đến ngày nay. Ban đầu câu chuyện được truyền miệng rộng rãi rồi sau đó không còn được nhắc đến nữa vì nhiều lí do mà nguyên nhân chính nhiều ngưòi tin rằng câu chuyện mang một lời nguyền ly tan.

Sự tích hoa thược dược

Trong các loài hoa, mẫu đơn đứng đầu, thược dược đứng thứ hai. Mẫu đơn được tôn xưng là “hoa vương”, thược dược được coi là “hoa tướng”. Tuy chỉ là “hoa tướng” nhưng thược dược lại thành danh sớm hơn mẫu đơn. Tương truyền từ 3.000 năm trước, vào thời Tam Đại, thược dược đã được trồng để thưởng ngoạn ở rất nhiều nơi trong khi người ta còn chưa biết đến hoa mẫu đơn. Khi mới phát hiện ra mẫu đơn, người ta tưởng đó chỉ là một loài thược dược, nên đã gọi nó là “mộc thược dược”.

Về sau, người ta phát hiện mẫu đơn và thược dược tuy cùng họ nhưng là hai cây khác nhau. Thược dược là loài thân thảo, còn mẫu đơn là cây thân gỗ. Thược dược được xếp vào nhóm thuốc bổ huyết, sử dụng chủ yếu để bồi dưỡng cơ thể; còn mẫu đơn thuộc nhóm thanh nhiệt lương huyết, chủ yếu dùng khi cơ thể đã mắc bệnh.

Bạch thược dược (Paeonia Lactiflora) có hoa rất to, mọc ở ngọn thân, tựa như hoa mẫu đơn hay thược dược cảnh. Cánh hoa màu hồng nhạt hay trắng muốt, nhị vàng cam, rễ phình to thành củ. Củ này luộc chín phơi khô chính là vị thuốc bạch thược. Cây bạch thược này không phải là cây hoa thược dược (Dahlia variabilis Desf) vẫn được trồng nhiều trong dịp Tết.

Tương truyền, tác dụng chữa bệnh của bạch thược đã được danh y Hoa Đà phát hiện ra trong một tình huống rất ly kỳ. Để nhận biết và tránh nhầm lẫn các vị thuốc, ông đã trồng đủ thứ cây thuốc quanh nhà. Một hôm có người đem biếu ông cây hoa lạ, nói rằng có thể dùng chữa bệnh nhưng không rõ chữa được bệnh gì. Hoa Đà đem trồng ở góc sân bên cửa sổ.

Xuân tới, cây ra những bông hoa rất to, trắng muốt, thơm như hoa hồng. Ông thử hái hoa sắc uống nhưng không nhận thấy có gì khác lạ. Ông lại hái lá rồi hái cành đem thử cũng không phát hiện điều gì đặc biệt. Nghĩ rằng cây hoa này tuy đẹp nhưng không có tác dụng chữa bệnh nên mấy năm liền, Hoa Đà không để ý đến nó nữa.

Một đêm thu, Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe thấy ngoài cửa sổ có tiếng con gái khóc thút thít. Nhìn ra, ông thấy dưới ánh trăng mờ, có một người con gái rất đẹp đang đứng đó khóc. Ông tự hỏi, không biết con gái nhà ai, chắc có nỗi oan ức nào đây. Ông khoác áo ra ngoài nhưng nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người nào nữa, chỗ cô gái đứng khóc chỉ còn một cây thược dược.

Hoa Đà đi vào và tự nhủ: “Cho dù nhà ngươi có linh tính thì bây giờ cũng đang là mùa thu, hoa đã tàn, lá đã rụng, còn sử dụng được vào việc gì?”.

Nhưng ông vừa ngồi xuống tiếp tục đọc sách thì lại nghe tiếng khóc thút thít, nhìn ra vẫn là cô gái ban nãy. Hoa Đà bước ra, cô lại biến mất, vẫn chỉ có cây bạch thược. Sự việc cứ lặp đi lặp lại mấy lần khiến Hoa Đà vô cùng ngạc nhiên. Ông bèn đánh thức vợ đang ngủ say dậy kể lại chuyện.

Bà nói: “Tất cả các cây trong vườn đều được ông sử dụng làm thuốc cứu người, chỉ có cây bạch thược này bị bỏ quên, chắc là nó có nỗi oan ức”. Hoa Đà bảo: “Tôi từng thử tất cả các bộ phận của nó thấy chả có tác dụng, vậy còn oan ức nỗi gì?”

Bà vợ nói: “Ông mới thử những thứ trên mặt đất, còn rễ của nó thì sao?”. Nhưng danh y gạt đi: “Hoa lá cành còn chẳng có gì đặc biệt, vậy thì còn thử rễ làm gì?”. Dứt lời, ông nằm xuống ngủ thiếp đi. Bà vợ suốt đêm không sao chợp mắt, nghĩ rằng chồng mình đã thay đổi, không còn lắng nghe ý kiến của người khác như trước kia nữa.

Vài hôm sau, bà vợ Hoa Đà bỗng nhiên bị đau bụng, băng huyết rất nhiều, uống đủ thứ thuốc không đỡ. Bà liền lén ra vườn đào rễ cây bạch thược đem sắc uống. Chỉ nửa ngày sau, bụng đã hết đau, máu cũng không còn chảy nữa. Nghe vợ kể lại, Hoa Đà rất cảm kích: “Cảm ơn bà đã thức tỉnh ta, nếu không thì ta đã để mai một cây thuốc quý”.

Sau sự kiện đó, ông thử nghiệm và nhận thấy ngoài tác dụng giảm đau, cầm máu, rễ bạch thược còn có tác dụng dưỡng huyết và chữa được nhiều bệnh phụ khoa. Cây hoa lạ này ban đầu có tên bạch thược, sau đó Hoa Đà thêm chữ “dược” thành bạch thược dược.

Cùng với thời gian, Đông y phát hiện thêm nhiều công dụng nữa của cây bạch thược. Nó trở thành thuốc bổ huyết thiết yếu, phổ tác dụng rộng và tần suất sử dụng rất cao. Bạch thược chủ trị kinh nguyệt rối loạn, vã mồ hôi, mồ hôi trộm, đau đầu, chóng mặt. Trên lâm sàng y học hiện đại, nó chữa tử cung xuất huyết, viêm thận mạn tính, tăng huyết áp, tiểu đường, viêm võng mạc, cường tuyến giáp…

Sự tích hoa Thủy Tiên

Ngày xửa ngày xưa, ở một gia đình ông phú hộ nọ có 4 người con trai. Khi biết mình sắp chết, ông gọi 4 người con đến, dặn dò các con phải chia gia tài của cha làm 4 phần đều nhau. Bốn người con hứa tuân lời cha trối lại, nhưng vừa chôn cất cha xong thì 3 người con đầu dành phần gia tài nhiều hơn người em út. Họ chỉ chia cho đứa em út một mảnh đất khô cằn.

Người em út rất buồn, vừa thương nhớ cha, vừa buồn các anh xử tệ với em. Đang ngồi khóc một mình trước mảnh đất khô cằn, thì người em bỗng thấy một bà Tiên từ mặt ao gần đó hiện lên bảo:

– Này con, thôi đừng khóc nữa. Khoảng đất này của con có chứa một kho tàng, mà các anh của con không biết. Kho tàng này chứa nhiều mầm của một loại hoa quý vô giá. Mỗi năm, cứ đến mùa Xuân, thì hoa đâm chồi nẩy lộc, nở từng hàng chi chít trên đất đai của con. Con sẽ hái hoa, đem bán, rất được giá. Nhờ đó, chẳng bao lâu thì con sẽ giầu có hơn các anh.

Quả thật, đến mùa Xuân ấy, đúng như lời bà Tiên nói, mảnh đất khô cằn của người em bỗng nhiên mọc lên từng hàng hoa trắng, hương thơm ngào ngạt. Để nhớ đến ơn lành của bà Tiên, người em đặt tên cho loại hoa này là hoa Thuỷ Tiên.

Những người thích hoa, chơi hoa, và những người nhà giầu đã thi nhau đến mua hoa Thuỷ Tiên hiếm quý, với giá rất đắt. Chẳng bao lâu, người em trở nên giầu có, nhiều tiền bạc. Rồi cứ mỗi năm Tết đến, người em út lại giầu thêm, nhờ mảnh đất nở đầy hoa thơm tươi thắm. Người em trở nên giầu hơn 3 người anh tham lam kia.

Từ đó người ta tin rằng hoa Thuỷ Tiên mang lại tài lộc. Bởi thế, vào những ngày đầu xuân, chơi hoa Thuỷ Tiên đã trở thành một tục lệ đẹp đẽ.