Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là sản phẩm của những điều kiện khách quan và chủ quan của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới. Đó cũng là kết quả của quá trình lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc; là sự tích cục chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của một tập thể chiến sỹ cách mạng mà người có công đầu là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Đọc tiếp “Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc”

Làm thế nào để trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam

1. Xác định động cơ vào Đảng đúng đắn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì sao chúng ta vào Đảng? Phải chăng để thăng quan, phát tài? Không phải!… Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên”. Bác còn căn dặn nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào Đảng. Bởi vì Đảng là tổ chức cách mạng có sứ mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập và chủ nghĩa xã hội, chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa vị, thu hái lợi lộc.

Phấn đấu vào Đảng là để được đứng trong một tổ chức của những người cùng chung chí hướng đấu tranh xây dựng một xã hội mới tốt đẹp dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Vào Đảng là dấn thân theo lý tưởng cách mạng, chấp nhận hy sinh, phấn đấu, quyết tâm đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã chọn là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Cái được lớn nhất khi vào Đảng là được phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, được Đảng và nhân dân tin cậy, yêu mến. Đọc tiếp “Làm thế nào để trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam”

Xác định động cơ vào Đảng đúng đắn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì sao chúng ta vào Đảng? Phải chăng để thăng quan, phát tài? Không phải!… Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên”. Bác còn căn dặn nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào Đảng. Bởi vì Đảng là tổ chức cách mạng có sứ mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập và chủ nghĩa xã hội, chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa vị, thu hái lợi lộc.

Phấn đấu vào Đảng là để được đứng trong một tổ chức của những người cùng chung chí hướng đấu tranh xây dựng một xã hội mới tốt đẹp dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Vào Đảng là dấn thân theo lý tưởng cách mạng, chấp nhận hy sinh, phấn đấu, quyết tâm đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã chọn là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Cái được lớn nhất khi vào Đảng là được phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, được Đảng và nhân dân tin cậy, yêu mến.

– Trong quá trình phấn đấu vào Đảng, việc xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn là điều có ý nghĩa quyết định. Đảng chỉ kết nạp những người thực sự giác ngộ về mục đích, lý tưởng cách mạng, quyết không thu nhận vào hàng ngũ mình những người mang động cơ thiếu trong sáng, lệch lạc; càng không để cho các phần tử cơ hội lọt vào Đảng. Để có động cơ vào Đảng đúng đắn, cần hiểu sâu sắc bản chất, mục đích của Đảng, tích cực góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra; thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, vụ lợi, xa lạ với bản chất của người chiến sĩ cách mạng.

– Xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng. Trong điều kiện hoà bình, Đảng cầm quyền và cơ chế kinh tế thị trường, mỗi người chúng ta nói chung, người đảng viên nói riêng, luôn phải đối mặt với biết bao khó khăn, thử thách là những cám dỗ của quyền lực, tiền tài… Nếu người vào Đảng không có động cơ vào Đảng trong sáng sẽ không thể vượt qua được những thử thách, không thắng nổi sự cám dỗ vật chất và những thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Nội dung cương lĩnh 1930

Quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung cơ bản trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng (2-1930).

– Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp. Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Người tham gia những hoạt động chính trị sôi nổi ngay trên đất Pháp như : tham gia hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp.
– Tháng 6 – 1919, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi “ Bản yêu sách 8 điểm” đến Hội nghị Vécxai, nhằm tố cáo chính sách của Pháp và đòi Chính phủ Pháp thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Mặc dù không được chấp nhận, nhưng “ Bản yêu sách” đã gây tiếng vang lớn đối với nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa của Pháp. Tên tuổi Nguyễn Ái Quốc từ đó được nhiều người biết đến.
– Tháng 7-1920: Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ cho Người thấy con đường để giải phóng dân tộc mình. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đi theo Quốc tế thứ III.
– Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua vào cuối tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người Cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường Cộng sản.
– 1921: Người sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc.
– 1922 : Ra báo “ Le Paria” ( Người cùng khổ ) vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng.
– 1923 : Sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân, sau đó làm việc ở Quốc tế Cộng sản.
– 1924 : Dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.
Ngoài ra, Người còn viết nhiều bài cho báo Nhân Đạo, Đời sống công nhân và viết cuốn sách nổi tiếng “ Bản án chế độ thực dân Pháp” – đòn tấn công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân Pháp-
– Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (chủ yếu trên mặt trận tư tưởng chính trị) nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta. Thời gian này tuy chưa thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam, nhưng những tư tưởng Người truyền bá sẽ làm nền tảng tư tưởng của Đảng sau này. Đó là :
* Chủ nghĩa tư bản, đế quốc là kẻ thù chung của giai cấp vô sản các nước và nhân dân các thuộc địa. Đó là mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng chính quốc và thuộc địa.
* Xác định giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt của cách mạng.
* Giai cấp công nhân có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản.
– Tháng 6-1925 :Người thành lập “ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên” và cho xuất bản tuần báo “ Thanh niên” làm cơ quan ngôn luận của Hội.
– Tháng 7-1925 : Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà cách mạng Quốc tế, lập ra “Hội các dân tộc bị áp bức ở Á Đông”, có quan hệ chặt chẽ với Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
– Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã mở nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày để đào tạo, bồi dưỡng cách mạng.
– Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện ở Quảng Châu sau đó đã được xuất bản thành sách “Đường Kách Mệnh”.
– Từ năm 1928 : Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng được cơ sở của mình ở khắp nơi. Hoạt động của Hội góp phần truyền bá tư tưởng Mác- Lênin, thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam theo xu thế cách mạng vô sản. Sự ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng là bước chuẩn bị chu đáo về chính trị , tổ chức và đội ngũ cán bộ cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
– Giữa năm 1927-1930 : Nguyễn Ái Quốc đã từ Xiêm (Thái Lan ) về Trung Quốc, với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.
– Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng.
=> Nói đến NAQ là nói đến con người của nhiều sáng lập, nhưng sáng lập ra ĐCSVN là sáng lập có ý nghĩa quyết định đến những thắng lợi về sau của CM nước ta

Nội dung cơ bản trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng (2-1930).
Gồm 5 nội dung cơ bản:
Phương hướng chiến lược của CMVN: tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản
Nhiệm vụ của cách mạng: tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
+ Về chính trị: Đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.
+ Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (công nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của đế quốc pháp để giao cho chín phủ công nông binh quản lý, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ.
+ Về văn hoá xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền,.. phổ thông giáo dục theo công nông hoá.
+ Về lực lượng cách mạng: công nhân và nông dân là lực lượng cơ bản, là gốc; đồng thời phải mở rộng rãi hơn các lực lượng khác đó là: tư sản vừa và nhỏ, trung tiểu địa chủ.
+ Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng ta là 1 cương lĩnh cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là nội dung cơ bản của cương lĩnh này.
– Xác định mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận cấu thành của cách mạng thế giới, phải tranh thủ cách mạng thế giới.

Đường lối cách mạng Việt Nam trước năm 1975

Thứ nhất: Đối ngoại là một lĩnh vực hoạt động quan trọng đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định từ rất sớm.

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (Xuất bản năm 1927), Nguyễn Ái Quốc xác định “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Ngay từ ngày mới thành lâp Đảng ta đã coi “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên hệ với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp”.

Tiếp đến Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 bổ sung “Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương”.

Thứ hai: Từ đó đường lối đối ngoại của Đảng không ngừng được tiếp tục được bổ sung và phát triển.

Từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đối ngoại là một mặt trận quan trọng, góp phần bảo đảm sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đến năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, lịch sử hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua hơn 45 năm trường kỳ, gian khổ, nhiều hy sinh mất mát nhưng cũng đầy oanh liệt, oai hùng.

Là sản phẩm sáng tạo của tư duy lý luận của Đảng kết hợp vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể cách mạng Việt Nam, quán triệt sâu sắc mục tiêu, quan điểm đối ngoại, nội dung đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua các giai đoạn tương ứng:

1. Giai đoạn đấu tranh giành chính quyền:
Trước tình hình biến đổi phức tạp và nhanh chóng của thế giới ở giai đoạn cuối chiến tranh thế giới lần thứ 2, Đảng ta nhận định thời cơ làm cách mạng, lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền đã chín muồi. Cuối tháng giêng năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người chủ trì hội nghị lần thứ 8 Đảng Cộng sản Đông Dương tại Pắc Bó, tỉnh Cao Bằng (từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941). Hội nghị phân tích, đánh giá tình hình thế giới và tác động tương quan lực lượng ở Đông Dương; đề ra nhiều nhiệm vụ quan trọng và cấp bách cho cách mạng Việt Nam trong đó có chủ trương thành lập mặt trận Việt minh, dự kiến thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về công tác đối ngoại (ngoại giao), chính phủ đó sẽ: 1) Hủy bỏ tất cả mọi hiệp ước mà Pháp đã ký với bất kỳ nước nào; 2) Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức giữ hòa bình; 3) Kiên quyết chống tất cả các lực lượng xâm phạm đến quyền lợi của nước Việt Nam; 4) Mật thiết liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới. (Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, NXB CTQG 2001, tr38) Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam phải đứng về phe đồng minh, giao thiệp với quân đội Trung Quốc và với cả Anh, Mỹ để lợi dụng họ mà giải phóng Đông Dương chứ không phải giúp họ quay lại chiếm đóng Đông Dương.

2. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954:
Mùa thu năm 1945, tranh thủ những điều kỉện thuận lợi trong nước và quốc tế, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân chuẩn bị và chấp thời cơ tổng khởi nghiã, làm cách mạng, giành chính quyền về tay nhân dân và tuyên bố độc lập. Tuy vậy, khi Chính quyền non trẻ vừa mới ra đời đã phải đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Việt Nam bị các chi phối bởi sự tranh giành quyền lực giữa cường quốc. Các nước đồng minh (trực tiếp là quân Anh và quân Tưởng) lợi dụng danh nghĩa thay mặt quân đồng minh giải giáp vũ khí quân Nhật ở Đông Dương âm mưu tái chiếm Việt Nam hoặc ít nhất cũng dùng Đông Dương để mặc cả đòi phân chia quyền lợi lẫn nhau gây nhiều bất lợi cho cách mạng Việt Nam.

Trước tình hình khó khăn đó nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại là: “Kiên trì chủ trương ngoại giao với tất cả các nước theo nguyên tắc “bình đẳng và tương trợ”. Phải đặc biệt chú ý những điều này: một là thuật ngoại giao là làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết; hai là muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực” (Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương về kháng chiến kiến quốc, ngày 25/11/1945).

Nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động đối ngoại giai đoạn này là: Đẩy mạnh hoạt động ngoại giao nhằm phân hóa kẻ thù, lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đồng minh.

Tích cực đấu tranh ngoại giao hợp pháp và công khai trên tinh thần Hiến chương Đại Tây Dương (tháng 8 năm 1941), Hiến chương Liên hợp quốc (tháng 6 năm 1945), Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1976), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1791) nhằm khẳng định chính quyền Việt Nam và quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

==> Bài thu hoạch Cảm tình đảng 10 điểm.

Mở rộng hoạt động ngoại giao, ký kết hiệp định hợp tác hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Cộng hòa Dân chủ Đức…để thu hút sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần của họ phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược.

Đấu tranh ngoại giao để các nước công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là chính phủ duy nhất, hợp pháp của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Tranh thủ liên hiệp với phong trào cách mạng thế giới nhằm tập hợp lực lượng ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam cũng như các nước Đông Dương.

Hợp tác chặt chẽ với Đảng và nhân dân các nước Lào, Campuchia nhằm tăng thêm sức mạnh cùng chống lại kẻ thù chung.

[Ngày 14/08/1941, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt và thủ tướng Anh Winston Churchill đã ký văn kiện nêu ra các nguyên tắc hợp tác quốc tế nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Văn kiện này về sau có tên gọi là Hiến chương Đại Tây dương.]

Đường lối đối ngoại giai đoạn này đã góp phần củng cố chính quyền, tăng cường sức mạnh cho cách mạng để làm nên chiến thắng Điện biên phủ, chấm dứt chiến tranh của thực dân Pháp ở miền Bắc.

3. Giai đoạn từ 1954 đến 1975:
Sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ thay chân Pháp xâm chiếm miền Nam Việt Nam, đất nước Việt Nam bị chia cắt làm hai miền, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới cùng thực hiện song song hai chiến lược cách mạng: đấu tranh giải phóng miện Nam, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Đường lối đối ngoại cơ bản của Đảng ta lúc này là:

Với phương châm nêu cao tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tố cáo những âm mưu đen tối của kẻ thù, tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới kể cả nhân dân Mỹ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động ngoại giao với tinh thần chủ động, linh hoạt nhưng kiên quyết, cứng rắn với kẻ thù;

phát huy quan hệ sẵn có, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện, hữu nghị, tương trợ với các nước trọng hệ thống Xã hội chủ nghĩa đặc biệt là với Liên Xô, Trung Quốc; thắt chặt quan hệ hợp tác và đẩy mạnh giúp đỡ cuộc khánh chiến của nhân dân Lào và Campuchia; tranh thủ quan hệ và sự ủng hộ của các nước trung lập, của các phong trào không liên kết và yêu chuộng hòa bình trên thế giới nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh bại các cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đi đến toàn thắng, giải phong miền Nam, thống nhất nước nhà.

4. Sau 45 năm đấu tranh và xây dựng, nhờ có đường lối đối ngoại đúng đắn và hoạt động ngoại giao hiệu quả, chúng ta đã:
+ Tranh thủ được sự gúp đỡ to lớn về nhiều mặt (cả vật chất và tinh thần) của nhân dân thế giới, trong đó trước hết phải kể đến là sự giúp đỡ của Đảng và nhân dân các nước xã hội chủ nghia. Sự giúp đỡ này là điều kiện cực kỳ quan trọng góp phần không chỉ làm nên chiến thắng của cách mạng Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ mà còn giúp chúng ta xây dựng được những cơ sở ban đầu cho Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

+ Thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới trong đó có các nước phụ thuộc để cùng đoàn kết chống ngoại xâm.

+ Tăng cường tình đoàn kết anh em với nhân dân Lào và Campuchia đã làm tăng sức mạnh của mỗi dân tộc cũng như sức mạnh tổng hợp của cả ba dân tộc để đánh đuổi thực dân Pháp và đề quốc Mỹ xâm lược.